Chim lồng cá sông

IMG_0006

Cuối cùng thì trời cũng mưa. Sau một tuần nắng nóng nhớp nhúa. Bức bối. Khó chịu. Cơn mưa mùa hạ ào xuống cuốn trôi tất thảy bụi bặm, muộn phiền. Nhìn từ trên cao, những hạt mưa chẳng khác gì những bông tuyết rơi. Mọi âm thanh trở nên ồn ào hơn, hỗn loạn hơn. Tiếng còi xe giục giã hơn để người ta nhanh chóng trở về nhà, hay chỉ là nhanh chóng trú mưa. Những giọt nước đuổi nhau trên khung cửa kính. Chúng tự vẽ bản đồ của riêng mình…

Phía trên cao thành phố có một cái chuồng chim. Lẽ thường, hoạ mi mái xuỳ chỉ để kích trống hót căng hơn, hay hơn. Mi mái không biết hót! Mi mái chỉ được cái mau mồm mau miệng. Mi mái khôn ngoan được giữ lại trong chuồng. Mi mái bất tài thường thả về rừng sinh sôi nảy nở. Nhưng đã phàm là giống chim, phải biết bay, phải thích bay. Chẳng có con nào ưa loanh quanh nhảy cà tưng trong lồng, cho dù cái lồng ấy có đẹp đẽ cỡ nào. Ấy thế mà cái sự lạ của  bất kì loài nào bị giam nhốt, lâu dần rồi cũng sẽ trở thành thói quen. Có thả cho đi rồi cũng sẽ trở về. Nó thích thú được giam nhốt, được ở yên trong lồng nhìn ngắm mọi vật xung quanh. Mưa đến, những con chim tự do sẽ lo lắng tìm nơi trú ngụ, còn chim trong lồng tự dưng lại vui vẻ reo vang. Chẳng hề sợ sấm rền chớp loá, cũng chẳng hề đắn đo những rào rạt bên ngoài. Kiếp chim lồng cá chậu những tưởng một ngày bằng cả năm gông ngồi tù, ấy vậy mà ở khía cạnh nào đó có khi lại nhiều phần hơn. Nó thích cuộn mình rỉa lông rỉa cánh, thích quan sát các vật thể phía dưới, rồi có lúc lại bơ đi, chẳng thèm quan tâm tới thế giới bên ngoài, bỏ quên tháng ngày đằng đẵng trôi. Mưa, nắng, gió, bão không chạm được tới nó. Ngay cả khi chiếc lồng rung rinh, hay chính nó rung rinh, nó vẫn luôn nhanh chóng lấy lại được thế cân bằng. Bởi vậy, nó thích mưa! Nó thích ung dung tự tại khi ngoài kia biết bao nhiêu vội vã…

Trái ngược với những rộn rã trên bờ, ở phía đó, dòng sông bến nước con thuyền vẫn lững lờ trôi. Chẳng vội được, chẳng trốn mưa được. Chỉ có những con cá sông bơi lội dưới làn nước kia mới trốn được mưa. Nhưng đó thường là thời điểm cuối cùng của cá sông. Trốn mưa nốt đi, tung tăng nốt đi, quẫy đạp nốt đi, ngụp lặn cho thật sâu vào. Để rồi sau cơn mưa, cá ngoi lên mặt nước hô hấp, và thường bị bắt nhiều hơn. Người đi câu sành sỏi là người bắt cá sau cơn mưa. Bởi vậy, cá sông và chim lồng, chưa biết con nào thoải mái sống trọn kiếp hơn con nào! Có điều, cả 2 đều khoác lên mình tấn bi kịch. Bi kịch của kẻ thất bại!

Cũng đúng thời điểm này, 2 năm trước, có đoạn viết “một con cá như mình thà vùng vẫy, giành giật sự sống và cuối cùng chết queo ở sông kia, chứ không thể lượn lờ trong cái bình thuỷ tinh”. Hoá ra con cá trong bình thuỷ tinh đã trốn được ra sông, đã vùng vẫy chết queo, đã hoá kiếp thành con chim tự do rồi tự chui vào lồng lúc nào chẳng biết…

Mưa vẫn nằng nặng, gió vẫn rin rít… Ly rượu trên tay vẫn còn phân nửa… Có kẻ ngù ngờ chợt nhận ra mình chính là con chim trong lồng, tự giam nhốt chính mình…

…Xuỳ Xuỳ…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Last Days in Vietnam

last_days_in_vietnam

        Khung cảnh tháng 4/1975 ở Sài Gòn. Những con phố vẫn nhộn nhịp, những con người đang phân vân lo lắng. Và lời kể của một nhân chứng cất lên “…The burning question is who goes, and who gets left behind?”… Ai đi và ai bị bỏ lại?…

        Đó là những hình ảnh đầu tiên cực kì ấn tượng của bộ phim “Last Days in Vietnam” được đề cử giải Oscar năm 2015 dành cho hạng mục Phim tài liệu hay nhất. Một bộ phim hiếm hoi của Mỹ về đề tài chiến tranh Việt Nam lột tả một cách chân thực, xác đáng và công bằng cho tất cả các bên. Một bộ phim PHẢI XEM nếu muốn hiểu hơn về “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” – những ngày mà cho đến tận bây giờ cả người Mỹ và người Việt vẫn còn đặt ra quá nhiều câu hỏi, trong đó có tôi. Nếu tôi là giáo viên dạy sử, thay vì những dòng chữ trong hàng trăm trang sách, tôi sẽ để học sinh xem bộ phim này trên Netflix. Không phải để trả lời những câu hỏi, mà để thấy được điều lớn lao, ý nghĩa hơn tất thảy về CON NGƯỜI, về khao khát được sống mãnh liệt của con người…

Sau khi “the burning question” được đặt ra, bộ phim lại quay trở về mốc 1973 Hiệp định Paris được ký kết. Những nhân chứng lịch sử lần lượt lên tiếng. Cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, đại diện CIA Frank Snepp, Đại tá Stuart Herrington đã bày tỏ quan điểm của mình một cách tự nhiên nhất, chân thật nhất trong suốt bộ phim có độ dài 98 phút. Thậm chí về cả việc Quốc hội Mỹ không thông qua gói cứu trợ trị giá 722 triệu đô, một dấu chấm hết cho chế độ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam. Và đó cũng là khi lần đầu tiên người ta thấy Tổng thống Gerald Ford chửi thề “Those sons of bitches!” Mâu thuẫn giữa Tổng thống và Quốc Hội chẳng bao giờ là mới trong chính trường Mỹ. Cũng là điều dễ hiểu! Một nước Mỹ vừa trải qua cú sốc Watergate với đầy hoài nghi, niềm tin bị tổn thương trầm trọng, không thể đồng thuận cho bất kì một quyết định lớn nào của giới chính trị. Không thể thêm tiền, không thể thêm quân! Hãy trả những người con của Mỹ về với đất mẹ! Có lẽ đó là lý do cho đến tận bân giờ người Mỹ vẫn biện hộ về cuộc chiến ở Việt Nam rằng “We don’t lose that war, we just abandon it” – Chúng tôi không thua, chúng tôi chỉ bỏ qua nó…

         Cuộc chiến ấy dần được tái hiện trên một bản đồ. Màu đỏ bắt đầu bao trùm, lấn át, siết chặt lấy những chấm đen. The North Vietnamese, Communist là những từ được cất lên qua giọng nói của các nhân vật với vẻ vừa khiếp sợ vừa khinh bỉ. Bạn sẽ không bao giờ hiểu được “cái vẻ” đó nếu bạn không phải là người trong cuộc, hay nếu bạn chưa trực tiếp gặp gỡ người trong cuộc. Tôi may mắn được cảm “cái vẻ” đó trong khá nhiều trải nghiệm của riêng mình. Có lẽ sẽ để dành kể chi tiết hơn vào một dịp khác. Bởi tôi, một người không màng đến bất cứ thứ chủ nghĩa, chính trị nào, cũng đã từng phải mất một thời gian dài để hiểu, để cảm, dù đã từng đi giữa khu trung tâm người Việt ở quận Cam (Orange County, Los Angeles), ghé thăm những toà soạn báo của người Việt, gặp gỡ những người Việt ở nhiều tiểu bang khác trên đất Mỹ, những con người ra đi trong và sau năm 1975, cùng với những người thân của họ. Chỉ khi chính tôi bị sỉ nhục, bị ngơ ngác vì mình là người sinh ra ở đất Bắc, nói giọng Bắc, chỉ khi chính tôi mang câu chuyện của mình chia sẻ với họ, và thực sự cầu thị lắng nghe những thiên truyện của họ, tôi mới có thể hiểu được. Đó là lúc họ mở lòng ra, vắt tim ra nói về lòng căm thù, về nỗi đau nhen nhói khi nghe ai đó cất lên thứ tiếng mẹ đẻ, về những mất mát, những hy sinh, những máu và nước mắt… Sẽ không còn khoảng cách về thứ phân biệt vô nghĩa nhạt toẹt giữa Bắc kỳ – Nam kỳ, sẽ không còn hoài nghi ngờ vực vô căn cứ. Sẽ chỉ còn lại một dòng máu, một dân tộc đã chịu quá nhiều đau thương, chia cắt. Một dân tộc không biết đi về đâu…

        Trong khi đó, người Mỹ họ lên kế hoạch cho mọi thứ, kể cả cái chết!

        15 phút đầu bộ phim có thể khiến bạn chán nản, vì có vẻ như nó không giống những gì bạn mong đợi. Bản thân tôi đã nghĩ có lẽ nó chỉ đơn giản là một bộ phim tài liệu, chắp nối những tư liệu cũ, vài tiếng bom đạn, và thứ âm nhạc đều đều gây buồn ngủ. Nó quá mềm mượt so với một bộ phim tài liệu về chiến tranh. Đó là lúc tôi cảm giác có bàn tay của nữ giới ở đây. Search google, không ngạc nhiên khi đạo diễn là nữ, và cái họ Kennedy khiến tôi tò mò. Thực sự tôi có thể đã tắt tivi đi nếu không biết rằng nữ đạo diễn Rory Kennedy là cháu của cựu Tổng thống Mỹ John F.Kennedy. Cô được sinh ra 6 tháng sau khi bố của cô, tức em trai JFK bị ám sát. Nếu bạn là một đứa trẻ lớn lên và biết được rằng bác ruột cùng bố của bạn đều bị ám sát, và đều liên quan đến chiến tranh, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ trở thành kẻ tò mò nhất thế gian về chiến tranh! Và chính sự tò mò đó đã thôi thúc Rory làm bộ phim này! Chính xuất thân của cô đã khiến cô có được những thước phim tư liệu quý giá và những chia sẻ chân thật đắt giá của các nhân chứng lịch sử!

         Tôi đã đúng và đã sai! Đúng, phụ nữ không nên làm phim về chiến tranh! Sai, Rory không làm phim về chiến tranh! Cô làm phim về con người, về tính nhân văn!

         I’m dreaming of a white Christmas – Tôi đang mơ về một Giáng sinh tuyết trắng – đó là thứ âm nhạc cuối cùng mà đài Mỹ ở Sài Gòn phát đi…

        Bộ phim bắt đầu chuyển sang cao trào khi được hơn một nửa. Những gấp gáp vội vã chuẩn bị cho kế hoạch sơ tán dồn dập qua nhiều khung hình. Nhưng có 1 người duy nhất không hề vội vàng, đó là Graham Martin – Đại sứ Mỹ cuối cùng tại miền Nam Việt Nam. Ông – người đã mất đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam, từ chối lên chiếc máy bay đầu tiên đến đón ông, bởi ông biết nếu ông lên đó, sẽ không người Việt nào còn được cứu. Người Mỹ đã phải dùng đến The Option 4 – cách cuối cùng để rời khỏi Sài gòn – dùng trực thăng của lính thuỷ đánh bộ Mỹ đưa người ra tàu biển. Hàng nghìn người đổ xuống đường, tìm mọi cách được vào trong sứ quán Mỹ để mong được sơ tán. Họ vượt rào, trèo tường, đút lót tiền cho lính Mỹ canh cửa, hoặc đơn giản là có mối quan hệ với người Mỹ trong Sứ quán. Họ mang theo cả hành lý, thậm chí người Mỹ còn nghĩ rằng cần mang theo cả thợ may Việt, đầu bếp Việt và cả người rửa bát nữa. Đó là lúc đạo diễn Rory Kennedy lấy được cả tiếng cười của khán giả khi làm phim tài liệu chiến tranh. Khuôn viên Sứ quán Mỹ trở nên nhốn nháo, lộn xộn hơn bao giờ hết. Tất cả đều nhìn lên bầu trời cầu mong những chiếc trực thăng, hay những điều kỳ diệu sẽ tới. Lẫn vào đó là cột khói nghi ngút mà người Mỹ đã phải mất tới 8 tiếng để đốt 1 triệu đô la trong một căn nhà ở góc Sứ quán. Số tiền dành cho việc chi trả cho người Việt làm việc cho chính phủ Mỹ.

        Ở đất liền là vậy, ngoài biển cũng không kém phần sôi sục. Những phi công người Việt trong Lực lượng Không quân miền Nam cố gắng hạ cánh lên Chiến hạm Mỹ ở biển Đông, sau khi đã đáp máy bay trước sân nhà để đón gia đình. Những chiếc trực thăng này không có bánh xe, và trên Chiến hạm chỉ đủ chỗ để đỗ 1 chiếc, bởi vậy việc họ làm là cứ mỗi trực thăng đỗ xuống, đón người xong, họ lại đẩy trực thăng xuống biển, để giành chỗ cho chiếc tiếp theo đỗ. Qua lời kể của một nhân chứng vào thời điểm đó chỉ mới 6 tuổi, bố anh đã dùng kỹ năng của một phi công Chinook máy bay loại to, để cứu thoát gia đình và những người Việt khác – những người không nằm trong kế hoạch sơ tán của Mỹ. Người Mỹ không thể tưởng tượng được sự liều lĩnh bản năng của người Việt ngay cả khi rời khỏi quê hương. Chinook còn không thể đỗ trên tàu, nên họ buộc nhảy xuống biển, rồi phi công tự thoát ra. Hình ảnh người mẹ buông đứa trẻ 6 tháng tuổi từ máy bay rớt xuống biển rồi cùng nhảy xuống theo, cho thấy họ không còn cách nào khác. Thà chết để sống, còn hơn ở lại sống để chết. Và lúc ấy, người ta không còn phân biệt được Việt hay Mỹ, chỉ có con người hãy cứu lấy con người…

        Mọi con số đều bị quá tải. 17 chiếc trực thăng đã chở được tới 157 người. Một chiếc tàu thông thường chỉ chở 200 người, mà giờ là 2000 người. 75 trực thăng được huy động tới sứ quán Mỹ. 1 phi công đã bay liên tục 18 tiếng đồng hồ, chuyến cuối cùng buộc phải đón Đại sứ. Một trong những người lính Mỹ phải trấn an khoảng 420 người Việt còn lại tại Sứ quán, rồi phải dùng câu nói dối hẳn bằng tiếng Việt – “mót đái quá” – để rời khỏi đó, lên một trong những chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam vào lúc gần 4h sáng ngày 30/4. Và 11 người Mỹ còn lại, 7h58 sáng ngày 30, là những lính Mỹ cuối cùng rời SG. Ngay cả người Mỹ cũng gọi quyết định rút lui của chính phủ Mỹ khi đó là một sự phản bội – “serious and deep betrayal”. Phản bội ai, phản bội cái gì, thì ngay cả những người đưa ra quyết định vào lúc đó cũng chẳng hiểu nổi. Trong khi ấy, có một Option khác mà người Mỹ không nghĩ tới, một luồng di cư khác cũng đang ồ ạt, đó là những thuyền nhân lên tàu thương mại ngoài cảng Sài Gòn. Thế nhưng, bao trùm lên tất cả vẫn là sự bất lực. Từ sự bất lực của một chiếc xe máy treo lơ lửng trên mạn tàu, hay ngay cả đến sự bất lực của Đại sứ Martin khi vừa cắn miếng táo vừa trả lời phỏng vấn. Và thế là hết! Người lính Thuỷ quân hát quốc ca Việt Nam Cộng Hoà trên biển, thấm thía là mình đã mất hết. Khi lá cờ vàng 3 sọc VNCH hạ xuống, cờ Mỹ treo lên, khi chiếc tàu tiến vào vùng biển của Philippines, vì nước này đã công nhận chính phủ mới ở Việt Nam. Còn trên đường phố Sài Gòn lúc ấy, người lính VNCH giải giáp, chỉ còn mặc quần lót hoặc nhanh chóng khoác lên mình thường phục. Họ cho đến giờ có người còn sống sót, đã già, và vẫn còn băn khoăn tự hỏi rằng “Đây là những gì chúng tôi chiến đấu vì sao? Đây là những gì người Mỹ đến ư?”…

         Có 3 nhân chứng người Việt xuyên suốt câu chuyện. Một người lính VNCH – Phạm Đàm , Thuỷ quân VNCH – Đỗ Kiêm, cậu học sinh Phó Bình bị bắt đi trại cải tạo sau đó 1 năm trốn sang Mỹ. Những lời kể vẫn còn run rẩy, xúc động. Họ là 3 trong số 130.000 người VN đã trốn thoát, trong đó có 77.000 người được mô tả trong phim. Có điều mà tôi chắc chắn là họ và chính bản thân tôi cũng cảm thấy day dứt khi phải dùng đến từ “trốn thoát”, “chạy trốn”, “rời đi”, “escape”, “run away”, “leave” khỏi chính quê hương đất mẹ. Không ai ý thức được điều gì khi ấy ngoài khao khát được sống, như chính những đứa trẻ trong Chiến dịch Babylift – Chiến dịch Không vận trẻ em Việt Nam 1975.

        “Những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 đã tóm tắt lại cả cuộc chiến ở Việt Nam. Những lời hứa được tạo ra để rồi bị phá vỡ. Mọi người đau đớn vì chúng tôi không thể làm tốt. Nhưng mặt khác, đôi lúc có những khoảnh khắc mà người tốt phải vượt qua hoàn cảnh để làm những việc cần làm. Và ở Sài Gòn không thiếu những người như vậy…” – Đại tá Stuart Herrington, một trong những người như vậy, đã chia sẻ trong những thước phim cuối cùng. Những người Mỹ ở Việt Nam đã cố gắng cứu người Việt khi mà chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi họ. Những người Việt của chế độ Sài Gòn cũng đã quyết định tự cứu lấy mình chứ không để đoàn quân Việt Nam cứu họ. Tất cả đều là quyết định của mỗi một con người, đi hay ở, sống hay chết. Chính phủ, quân đội xét cho cùng chỉ là những thể chế, công cụ mà thôi.

       Bộ phim khép lại với một khoảng lặng dành cho người xem. Chẳng ai có quyền phán xét, lịch sử cũng không. Với tôi, cái thứ đọng lại sau cùng, sau tất cả những cảm xúc, những day dứt, những giải toả, lại gói gọn trong từ Freedom – Tự do. “Not American soil but American freedom” – đó là thứ mà những người ra đi, họ thực sự chạm tới!

       Còn những người ở lại, hay những người sinh ra và sống trong thời bình, cho đến bây giờ hơn 40 năm kể từ sau cuộc chiến hoà bình độc lập, bỏ qua những băn khoăn của lịch sử, họ đang sống cho hiện tại với một tương lai chưa biết trước, và họ đang phải vật lộn với một cuộc chiến khác. Một cuộc chiến không tiếng súng, không bom đạn, nhưng những cái lò vô hình vẫn đang được chất củi để đốt và chờ đốt. Không có lửa làm sao có khói. Và bầu trời Hà Nội vẫn được bao bọc bởi thứ không khí đặc quánh, quẩn quanh, khó thở. Đất, nước, và số phận con người ở Việt Nam bây giờ… à mà thôi, chẳng nói, chẳng viết nữa, sợ lạc trôi vào đề tài khác! Tóm lại các bạn hãy xem phim đi nhé!

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Thường

_The Mute_

Chuyện chép trên núi…

Mây tảng lờ những tầm phào dưới mặt đất, bềnh bồng nhẹ lướt, tu lượn trên đỉnh núi. Tiết trời se sẽ thứ lạnh ngòn ngọt đầu đông. Ông vuốt mái tóc pha sương, ngồi thư thái bên chiếc bàn gù hương, thoảng mùi thơm nồng nồng, ngai ngái. Nhấp một ngụm trà sen từ chiếc ấm tử sa quần ẩm văn đán hoạ một bông mẫu đơn, ông cất tiếng :

– Tôi trông cô quen quen! Tôi đã gặp cô chưa nhỉ?

– Dạ thưa, chắc chưa, mà cũng chưa chắc!

– Ừ, cũng có thể gặp đâu đó rồi mà trí nhớ tôi kém! Thôi thì cũng phải có duyên lắm ta mới ngồi đây đối ẩm.

– Dạ vâng, Hà Nội vốn nhỏ, người hay ho lại không nhiều, cũng chả trách ta gặp nhau.

– Tôi già rồi nên chắc cũng hay bị ho hơn lớp trẻ như cô, chứ cô hay ho hay không tôi chưa chắc.

– Dạ thưa, bác lạ gì thời tiết đổi thay thất thường, có hay ho sớm hay muộn cũng đâu lạ.

– Khà khà, khá khen cho màn đối đáp làm quen. Người hay ho chắc cũng còn nhiều, chứ hảo hán anh hùng thời nay hiếm.

– Dạ thưa, anh hùng thời nào cũng hiếm cả. Thời nay lại càng hiếm hơn vì chẳng ai muốn làm anh hùng!

– Tôi hỏi khí không phải, cô năm nay bao tuổi mà nết nói năng lại hao hao nét xưa.

– Dạ thưa, các bác vẫn hay bảo tuổi tác không quan trọng, quan trọng ở cái tinh thần. Mà đáng lẽ tính ra vậy thì bác chỉ hơn em đôi ba tuổi.

– Ô hay, đôi ba tuổi là thế nào, cả đôi ba chục ấy chứ!

– Dạ thì đôi ba là hai ba 23 mà bác.

– Cái cô này đáo để ra phết! Cô nom vậy mà có khí phách của bậc hảo hán quân tử.

– Ấy chết, bác nói vậy thành ra phí hoài cái danh phận nữ nhi trời ban cho em.

– Cô đừng nhầm! Nam nữ không phải cái lý, chỉ là cái tình! Trăm lẻ tám vị hảo hán Lương Sơn cũng có người nữ. Bà Trưng Bà Triệu cũng đâu phải nam nhi.

– Dạ cảm ơn bác quá khen. Em không phải, cũng đâu dám. Chỉ mong sống sao cho được chữ Thường.

– Sao lại chọn chữ Thường? Sao không phải chữ An hay Phúc?

– Dạ thưa, cả 2 chữ đó đều hay. Có An là có Phúc, có Phúc tự thành An. Nhưng để có được 2 chữ đó e không phải do mình. Thường là bình thường. Theo em, cứ sống bình thường, suy nghĩ giản đơn, tự khắc mọi thứ tốt sẽ đến. Hoặc chẳng may không tốt, cũng coi là Thường.

– Ừ hừm, thường phải từng trải mất mát đau thương mới thấu được cái cốt đó. Lẽ chăng cô đã?

– Dạ thưa không! Em là người may mắn, nào đã được nếm mùi đắng cay đủ đầy của trần thế.

– Cô nói cứ như cô là người trời! Ai rồi cũng phải nếm đủ vị đời!

– Ấy không dám, bác thậm xưng vậy phải tội em. Ý em là còn trẻ người non dạ!

– Ừ cũng phải, sắc mặt tướng tá cô cũng không phải người từng trải nguy nan gì. Còn trong lắm!

– Vâng dù trong dù đục cũng là do tắm ao nhà thôi bác ạ!

– Giọng cô cứ nửa thật nửa đùa cứ như trêu ngươi. Người không quen nghe khó lọt tai.

– Vậy theo bác, giọng em nên sửa ra sao cho dễ nghe?

– Tự nhiên nó thế, cũng không cần sửa! Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt! Ai hiểu được mình thì hiểu cũng không cần cố!

– Thưa vâng, em chắc cũng chưa phải cố cái gì bao giờ!

– Có nhiều thứ vẫn cần phải cố! Không cố e không lớn nổi thành người!

– Vậy may, em không muốn lớn!

– Tự thân khắc lớn! Phàm cái gì là tự nhiên không cưỡng lại được! Mà cái gì cũng phải có thời điểm. Vận khứ kim thành thiết, thời lai thiết tự kim.

– Bác dạy phải ạ! Liệu cũng có phải do thời vận mà bác ẩn quy nơi đây?

– Ai nói cô tôi ẩn quy! Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu khách tầm. Chỉ là cái khí ở đây nó tốt cho người già như tôi!

– Ước gì lớn lên em được như bác!

– Rồi sẽ lớn, rồi sẽ được! Cứ giữ chữ Thường như cô đã chọn đấy, tôi cũng muốn xem sau này cô ra sao. Thôi thì như cô đến đây cũng là khách, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Hay thi thoảng cô có lòng đến thăm tôi uống chén trà.

– Dạ thưa bác, em lúc nào cũng có lòng!

– Khà khà, có lòng là tốt! Nên nhớ, tướng do tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển…

Mây đã xuống núi, chiều tà, chén trà nguội dần nhưng câu chuyện vẫn chưa nhạt…
Cái thứ năng lượng tốt đẹp đầy cảm hứng mà con người có thể truyền cho nhau chỉ đơn giản qua những lời trò chuyện, nó bình thường nhưng trân quý đến kỳ lạ…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Cái ôm

hug

Người ta sẽ không bao giờ hiểu được sức mạnh và ý nghĩa của một cái ôm lớn lao đến nhường nào đâu! Cho đến khi họ được ôm, họ được truyền năng lượng, họ được ủ ấm, và họ cảm thấy mình đang sống…

Tôi thích đến những buổi trò chuyện với sinh viên, những người trẻ tuổi, để quan sát, để lắng nghe hơn là chia sẻ, đưa ra những lời khuyên. Có lẽ cũng vì tôi muốn nhìn lại chính mình, khi tôi bằng tuổi các em. Ở đó sẽ có những bạn tuy thu mình lại nhưng đôi mắt luôn mở to để nhìn thế giới rộng lớn, để học hỏi. Và ở đó sẽ có những bạn luôn hừng hực ngọn lửa tuổi trẻ, hào hứng, háo hức, tự tin, nhưng lại băn khoăn không biết mình đi hướng nào, mình nên làm gì. Cho dù thế nào chăng nữa họ luôn có một điểm chung là tò mò, khao khát khám phá thế giới, mong nhận được những động viên tinh thần để họ đứng dậy và nói ra những điều họ nghĩ trong đầu. Họ chia sẻ những câu chuyện của chính họ, hay của những người thân, người bạn xung quanh. Ôi tuổi trẻ! Ai chả có lúc bồng bột, ai chả có lúc muốn mình chưa từng được sinh ra, ai chả có lúc nghĩ rằng mình có thể tự tử. Chẳng cứ gì các em, ai ở lứa tuổi nào chắc cũng đều cần “giải độc tâm trí”… Có một cô bé áo đỏ, trông rất xinh xắn, đeo cặp kính cận to nhưng  không che giấu được đôi mắt buồn bã. Và em đã khóc khi chia sẻ về cuộc sống của em, những vấn đề trong gia đình em. Em hỏi tôi hãy cho em lời khuyên, em nên làm gì để thoát khỏi tâm trạng nặng nề này. Tôi không biết trả lời em thế nào, không biết phải giúp đỡ em ra sao, bởi bản thân tôi có lúc còn không giúp nổi chính mình! Và tôi cũng không nhớ tôi đã trả lời em những gì. Tôi chỉ cảm thấy tôi muốn khóc cùng em, muốn ôm em thật chặt để em có thể vơi bớt những gánh nặng trong lòng… Đến cuối buổi em đã đến bên tôi, mắt vẫn còn cay đỏ, để cảm ơn tôi và nói “chị ơi cho em ôm chị một cái được không ạ”. Tôi thật may mắn! Chính tôi cũng đang muốn ôm em! Cảm ơn em, cô bé áo đỏ của tôi! Hy vọng rằng cái ôm ngày hôm ấy đã giúp em nhẹ lòng được phần nào!

Người trẻ nhiều năng lượng là thế, nhưng thực tế thì người già mới là bậc thầy truyền năng lượng từ những cái ôm. Bởi thứ năng lượng của họ được lĩnh hội trong suốt một đời người, và họ không còn nhiều thời gian nữa, cho nên dù đôi bàn tay gầy gò, cánh tay lỏng cơ, nhưng họ luôn ôm rất chặt. Tôi học cách ôm chặt đó từ chính những cụ già, hay những người đã biết rằng họ sắp lìa xa cõi đời. Ở họ có một sức mạnh vô hình của sự sống mãnh liệt! Tôi là người thích ôm và thích được ôm. Khi gặp lại ai đó, nhất là người đã lâu không gặp, tôi thường ôm họ chặt và lâu. Để họ hiểu rằng thời gian qua chỉ làm đóng băng tình cảm của chúng ta một thời gian chứ không có nghĩa là tình cảm đó vơi bớt đi chút nào. Cái ôm cũng chính là hành động phá băng. Tôi luôn biết ơn những người đã ôm mình, và chính họ cũng không biết cái ôm có ý nghĩa với tôi thế nào! Với tôi, cái ôm luôn mang đến một điều kỳ diệu. Đó chính là sự sống, là nhịp đập của trái tim trong lồng ngực. Một cái ôm có thể trao gửi mọi yêu thương, mọi điều muốn nói, có thể hoá giải mọi hiểu lầm, mọi cơn giận dữ, có thể trung hoà mọi cảm xúc lẫn lộn, và làm tan biến mọi căng thẳng lo âu. Cái ôm khiến con người ta nhận ra rằng họ đang sống cho giây phút này, cảm giác này, mà chưa cần biết ngày mai ra sao, hoặc sẽ khiến chính họ làm cho ngày mai trở nên tốt đẹp hơn. Có lẽ vì thế mà thi thoảng người ta lại thấy ai đó cầm tấm biển Free Hugs đứng trên đường phố. Hãy ôm nhau vì đó là miễn phí, là vô giá! Hãy ôm nhau khi còn có thể!

Không ai có thể ôm chính mình! Tất cả chúng ta đều cần cái ôm từ người khác! Ngay cả những con người độc lập nhất, mạnh mẽ nhất sẽ có lúc cũng cần một cái ôm! Và đấy, người ta sẽ không bao giờ hiểu được sức mạnh và ý nghĩa của một cái ôm lớn lao đến nhường nào đâu… Mỗi ngày hãy trao gửi một cái ôm để thấy mình đang sống…

Nhớ câu “Anh muốn ôm em một cái thôi”…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

 

Ánh Sáng

my_candles
When I want to see the hope of glory or the beauty of life… Sometimes I just light my candles… And my candles always show the truth… That I can see through the whole small world…

Hà Nội một đêm trở gió… Tháng Mười vắt nửa mình sang thu… Chớm chạm gió đông Mười Một…

Cô về nhà sau một bữa tiệc. Mùi rượu, mùi thuốc, mùi đàn ông, mùi đàn bà bao bọc lấy cô. Cô trút bỏ xiêm y, thay vì lao vào phòng tắm, cô lại quăng mình lên sofa thả hồn với khung cửa sổ quen thuộc. Bỏ qua wine, bỏ qua single-malt, cô rót một ly spiced-rum cay nồng. Cô luôn thích ban đêm hơn ban ngày chỉ đơn giản vì một lý do duy nhất : Yên Tĩnh! Ai cũng tưởng cô thích sự ồn ào, vì thấy cô luôn xuất hiện ở đám đông và luôn nhiệt tình với các bữa tiệc, nhưng thực ra cô khao khát sự yên bình, tĩnh lặng, không tiếng động. Mà có lẽ người ta chỉ thực sự yên tĩnh khi ngủ, nhưng đôi khi ngủ thì lại mơ, trong mơ cũng có tiếng động và bị tỉnh giấc. Chắc chỉ có cái chết mới thực sự yên tĩnh vĩnh hằng… Nhưng không, người như cô sợ chết hơn hết thảy! Vì cô đã chứng kiến biết bao cái chết trong xã hội sống mòn này : chết hẳn, chết lâm sàng, và cả sống bình thường đấy mà như đã chết…

Gần đây có hai cái chết khiến cô phải suy nghĩ. Một bạn đồng nghiệp trạc tuổi cô, ra đi chóng vánh vì ung thư. Một người anh quen biết đang khoẻ mạnh, bỗng nhiên mang tiếng đột tử… mà sự thật thì có trời mới biết… Ừ thì bệnh tật, tai nạn bất ngờ chẳng ai lường trước được. Mà cũng chẳng ai muốn chết, bỏ lại gia đình, người thân chơ vơ, đau đớn. Bởi vậy, cô không bao giờ hiểu được và không bao giờ tin là ai đó có thể tự huỷ hoại bản thân, hay tự giết chết chính mình, nhất là những người từng trải và thông thái. Họ thường lạc quan, vì họ quá hiểu cái đồ thị hình sin của sự vui buồn, của hy vọng và thất vọng, của ý nghĩa và vô nghĩa. Họ lại càng hiểu độ cần thiết của sự cân bằng giữa công việc và gia đình. Kẻ ngốc nghĩ mình biết mọi thứ, nhưng người thông minh lại luôn nghĩ rằng họ thiếu hiểu biết. Thế nên họ phải sống, sống để hiểu biết hơn nữa, để xem “kái kuộc đời lày” sẽ đi đến đâu. Thậm chí ngay cả khi đối mặt với cái chết, họ còn khao khát sống hơn nữa. Và người thông minh không bao giờ tự sát nếu không muốn cứu vãn hay chứng minh một điều lớn lao nào đó. Cái chết của ai đó, nếu có, chỉ chứng minh một điều : đừng chơi với lửa! Mà điều đó, ngàn đời nay, ai cũng dạy nhưng không ai nghe! Bởi lửa là thứ ánh sáng thật, nó không giả tạo, nó ấm áp, nóng bỏng và hấp dẫn vô cùng…

Lễ hội Halloween vào đêm cuối tháng 10 hàng năm thường là lúc người ta thắp lửa lên, khoác lên mình những bộ đồ ma quỷ để hoà nhập với những linh hồn người chết được trở về trần gian. Nhớ lại năm nào, cô khoác lên mình bộ đồ của cô bé quàng khăn đỏ – The Red Ridinghood – nhân vật chỉ sống trong những câu chuyện cổ tích, và lần đầu tiên cô đến gõ cửa những ngôi nhà trên một dãy phố ở San Jose bang California nước Mỹ, để nói “Trick or Treat”. Bất kì ai ra mở cửa cũng đều ngạc nhiên vì nghĩ đó là một cô bé 8 tuổi chứ không phải một cô gái 28. Cô còn nhớ mãi gương mặt ngơ ngác đáng yêu của một cậu nhóc chắc khoảng 5 tuổi, tóc xoăn tít, hoe vàng, ra mở cửa và đưa kẹo cho cô. Cô chắc chắn rằng chẳng có đứa trẻ nào hiểu được ý nghĩa thực sự của câu “Trick or Treat” cho đến khi chúng trưởng thành. Ừ đấy, nếu không muốn bị chơi xấu thì hãy đối xử với tôi tốt vào! Bullshit! Vớ vẩn! Đời không như là mơ đâu! Đừng mong người ta cho kẹo một cách dễ dàng! Đừng mong có thể, hoặc dám chơi xấu, dám đe doạ, dám lừa lọc mà không nhận hậu quả! Tốt hơn hết là đừng chơi đùa, giao du với ma quỷ, hay những phù thuỷ bậc thầy, nếu không muốn bị cám dỗ vào những con đường tối tăm tội lỗi, mà còn lâu mới có lối thoát hay le lói chút ánh sáng nào…

Và ừ đời ngắn lắm! Cứ vui đi biết đâu ngày mai…vẫn thế! Sống ở đâu cũng vậy, con người ta phải biết tự tạo ra niềm vui cho chính mình. Không thể chỉ ngồi đợi ai đó mang niềm vui tới, mang ánh sáng tới. Nếu có thì tốt, không có cũng chả sao. Cô tự nhủ vậy, uống ực nốt ly rum để nuốt chửng những dòng suy tư vặt vãnh. Cô giơ bàn tay lên trước tầm mắt, cô muốn lột phăng thứ ánh sáng giả tạo mà thành phố đang khoác trên mình. Thứ ánh kim, trắng vàng xanh đỏ nhập nhoè lừa dối con mắt… Để chỉ còn lại một màu đen tuyền… Để bầu trời đêm có thể thắp lên những ngôi sao lấp lánh… Nhưng không! Không có một ngôi sao nào! Thành phố vẫn sáng choang! Cô kéo rèm cửa lại…

Thành phố này cần đi ngủ, cô cũng vậy…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Thu Âm – Âm Thu

Khi bạn mở cửa bước vào và khoá mình trong không gian kín mít của phòng thu, với khung cửa kính, với những miếng mút, xốp hay bức tường dày cách âm, đeo tai nghe và đứng trước micro, nhắm mắt rồi thả mình trong những giai điệu mà bạn thích, ở đó chỉ có bạn và cảm xúc của bạn. Và điều tiếp theo mà bạn làm là cất giọng lên…

Đã lâu lắm rồi tôi không bước vào phòng thu âm. Công nghệ giờ hiện đại quá, với nhiều phần mềm chỉ nằm gọn trong lòng bàn tay, khiến người ta chẳng cần phải bước vào phòng thu mới có được những bản thu âm tốt. Nhưng nếu ai đã từng hát trong phòng thu, sẽ luôn có những cảm nhận đặc biệt. Tôi may mắn có một người bạn thân mở phòng thu âm riêng. Và cái sự thân ấy khiến tôi – một người chẳng có chút hiểu biết gì thanh nhạc – cũng có thể tự tin chia sẻ cảm xúc của mình qua giọng hát. Với tôi, hát là kể chuyện, là chia sẻ, và tôi khó có thể chia sẻ trước người lạ, hay người tôi không tin tưởng. Tôi luôn hát vì tôi thích, tôi muốn hát, chứ không phải vì bất kì điều gì khác. Tôi cũng không hát cho hay, phải hay, mà tôi hát theo kiểu của tôi, theo những gì tôi cảm nhận được từ giai điệu, ngôn từ. Có lẽ bởi vậy tôi sẽ không ngừng hát cho tới khi bị câm, tôi sẽ không ngừng viết cho đến khi bị cụt tay, và tôi sẽ không ngừng yêu cho đến khi chết…

Mùa thu Hà Nội ùa về với những phức cảm thật khó tả… Đã gọi là phức cảm tức là một thứ cảm xúc đã được pha trộn bởi rất nhiều những cảm xúc khác nhau. Người ta không thể chỉ nói ra chúng, hay viết ra chúng, người ta sẽ thêm vào chúng những giai điệu và tạo ra vô vàn bài hát. Không phải bài hát nào cũng được viết vào mùa thu, nhưng bài hát nào cũng có thể hát được vào mùa thu. Và mùa thu Hà Nội không giống những mùa thu khác ở những nơi khác. Nó lạ lắm! Thu vui lắm và cũng buồn lắm! Thu hân hoan, thu hạnh hội, thu hờ hững, thu hời hợt… Thu ngờ nghệch, thu ngờ ngững, thu ngờ ngợ, thu ngơ ngác… Thu ngông nghênh, phơi bày tất cả những phức cảm sâu thẳm nhất… Và khi thu âm những âm thu, mọi thứ sẽ nhẹ bẫng, sẽ bay lên và tan hết…

Tôi giữ lại những bản thu âm này cũng khá lâu rồi, cảm xúc cũng cũ rích rồi, gom lại ở đây cho những ai cũng cũ rích như tôi. Có lẽ tôi nên thu âm những bản mới, những bài mới…

  1. Cám ơn tình yêu  – Sáng tác : Huy Tuấn

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/cam-on-tinh-yeu-cover-nmbt.g4fns81dDkaw.html

https://drive.google.com/file/d/0BxaqmR3Q1VWnUUlfNk9YS1lNRms/view?usp=sharing

  1. Hà Nội 12 mùa hoa – Sáng tác : Giáng Sol

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ha-noi-12-mua-hoa-cover-nmbt.EW1fbMSXaIhx.html

https://drive.google.com/file/d/0B2ATDN-fVr7tdDE0QXhzcXVjbDg/view?usp=sharing

  1. Đoản khúc thu Hà Nội – Sáng tác : Trịnh Công Sơn

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/doan-khuc-thu-ha-noi-cover-nmbt.rg3Bp4hoPda2.html

https://drive.google.com/file/d/0BxaqmR3Q1VWnRklMQzFON1FFbEE/view?usp=sharing

  1. Chỉ là giấc mơ – Sáng tác : Kim Ngọc

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/chi-la-giac-mo-cover-nmbt.PnJVPECcw2ln.html

https://drive.google.com/file/d/0BxaqmR3Q1VWneWotcUI0amZUVW8/view?usp=sharing

  1. Dont write me off

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/dont-write-me-off-cover-nmbt.VKUl2quzPSYZ.html

https://drive.google.com/file/d/0BxaqmR3Q1VWnODVDTngyc01ZVVU/view?usp=sharing

  1. Way back into love

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/way-back-into-love-cover-nmbt.vW4W2awW2Jyx.html

https://drive.google.com/file/d/0BxaqmR3Q1VWnUzRHVnBqS1NaekU/view?usp=sharing

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Bão

storm

Cơn bão nghiêng đêm, cây gãy cành thay lá…

Ta đã yêu nhau, thề mãi mãi bên nhau cơ mà…

Tôi bật cười nhớ lại những lúc anh giật lấy tay tôi : “Nào, mang tay đây, ngã bây giờ!”… Người khác nhìn bọn cầm ô nắm tay nhau đi dưới trời mưa bảo là điên cũng phải. Nhưng cái bọn đấy thì luôn nghĩ chúng bình thường. Làm quái gì có cái ô nào to đủ che hai người! Chỉ là lấy cớ sát lại gần nhau thôi…

Người Hà Nội ngày càng lười biếng. Họ ít khi đi bộ, nếu có thì họ cũng nhất thiết phải kèm theo mấy lời than phiền mệt quá, bụi quá, hay sợ nắng lắm, sợ mưa lắm! Họ chẳng còn yêu Hà Nội đủ để mà thong thả đi bộ, nhấm nháp cái hương vị riêng của Hà Nội. Phố đi bộ mở cuối tuần vòng quanh hồ cũng chỉ là để ve vuốt cái trào lưu văn minh nhạt nhẽo xứ thiên đường. Họ đi như trẩy hội, đi như biểu tình. Người thích đi bộ thật sự là người không thích đi bộ quanh hồ Gươm vào dịp cuối tuần. Bởi nó xô bồ quá, ồn ào quá!

Nhớ đến đứa em ở Sài Gòn lần đầu tiên ra Hà Nội chơi đúng mùa mưa dầm dề. Con bé cuộn tròn trong chăn bảo “Em chả bao giờ sống ở Hà Nội đâu, mưa thế này chắc buồn mà chết mất…”  Tôi bật cười bảo con bé ngốc! Ừ nhỉ, Sài Gòn chợt nắng chợt mưa, hiếm có cơn mưa nào quá một tiếng! Nhưng người Hà Nội họ chả buồn mà chết bao giờ, vì họ có vui sống bao giờ đâu…

Mưa chưa hẳn là bão! Bão tới chưa chắc đã mưa! Những ánh chớp loá nhoà. Những cơn sấm rền vang. Nhưng hoá ra chỉ những kẻ giấu mình ở một góc riêng mới thấm từng giọt mưa rơi chứ không phải những đoàn người hối hả chạy mưa, chạy bão ngoài kia. Cái sự thấm nó mới là thứ trừu tượng nhất trên đời, chứ không phải tình yêu. Tình yêu không thấm! Tình yêu phải tràn…

Cô bạn thân nhà ở ngay trong lòng phố cổ, đi vài bước chân là ra đến bờ Hồ. Cô bảo tôi rằng hãy thử sáng sớm đi bộ ở đây mới thấm được cái sự trong trẻo của Hà Nội, chứ Hà Nội chả trầm buồn đặc quánh như tôi hay thấy đâu. Tôi lại bật cười. Hà Nội của riêng tôi chưa bao giờ hết trong trẻo. Có trăm ngàn tuổi thì Hà Nội vẫn cứ thế, luôn là như thế, chẳng buồn đổi thay.  Cũng như tôi vậy… Tôi đoán chắc rằng không phải ai cũng may mắn như tôi, có được những khoảnh khắc sống trong lòng Hà Nội mà không nghe thấy một âm thanh nào. Không một tiếng còi xe. Không một tiếng rao bánh bao bánh khúc. Không một tiếng còi tàu hoả. Đến những đoàn tàu chở cát lậu cũng không buồn kêu u u. Tất cả đều tĩnh lặng như tờ. Lúc đó mới có thể nhìn thấu cái tâm của Hà Nội trong veo. Như cái tâm bão luôn lặng lẽo. À, tôi mới tự nghĩ ra từ “lặng lẽo”. Từ điển không có từ này, nó cũng chẳng có ý nghĩa với ai, ngoài tôi.

Tôi không tĩnh lặng. Tôi không lạnh lẽo.

Tôi lặng lẽo. Trong một cơn bão ầm ào…

Bão trời và bão lòng, bão nào đáng sợ hơn?

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!