Last Days in Vietnam

last_days_in_vietnam

        Khung cảnh tháng 4/1975 ở Sài Gòn. Những con phố vẫn nhộn nhịp, những con người đang phân vân lo lắng. Và lời kể của một nhân chứng cất lên “…The burning question is who goes, and who gets left behind?”… Ai đi và ai bị bỏ lại?…

        Đó là những hình ảnh đầu tiên cực kì ấn tượng của bộ phim “Last Days in Vietnam” được đề cử giải Oscar năm 2015 dành cho hạng mục Phim tài liệu hay nhất. Một bộ phim hiếm hoi của Mỹ về đề tài chiến tranh Việt Nam lột tả một cách chân thực, xác đáng và công bằng cho tất cả các bên. Một bộ phim PHẢI XEM nếu muốn hiểu hơn về “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” – những ngày mà cho đến tận bây giờ cả người Mỹ và người Việt vẫn còn đặt ra quá nhiều câu hỏi, trong đó có tôi. Nếu tôi là giáo viên dạy sử, thay vì những dòng chữ trong hàng trăm trang sách, tôi sẽ để học sinh xem bộ phim này trên Netflix. Không phải để trả lời những câu hỏi, mà để thấy được điều lớn lao, ý nghĩa hơn tất thảy về CON NGƯỜI, về khao khát được sống mãnh liệt của con người…

Sau khi “the burning question” được đặt ra, bộ phim lại quay trở về mốc 1973 Hiệp định Paris được ký kết. Những nhân chứng lịch sử lần lượt lên tiếng. Cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, đại diện CIA Frank Snepp, Đại tá Stuart Herrington đã bày tỏ quan điểm của mình một cách tự nhiên nhất, chân thật nhất trong suốt bộ phim có độ dài 98 phút. Thậm chí về cả việc Quốc hội Mỹ không thông qua gói cứu trợ trị giá 722 triệu đô, một dấu chấm hết cho chế độ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam. Và đó cũng là khi lần đầu tiên người ta thấy Tổng thống Gerald Ford chửi thề “Those sons of bitches!” Mâu thuẫn giữa Tổng thống và Quốc Hội chẳng bao giờ là mới trong chính trường Mỹ. Cũng là điều dễ hiểu! Một nước Mỹ vừa trải qua cú sốc Watergate với đầy hoài nghi, niềm tin bị tổn thương trầm trọng, không thể đồng thuận cho bất kì một quyết định lớn nào của giới chính trị. Không thể thêm tiền, không thể thêm quân! Hãy trả những người con của Mỹ về với đất mẹ! Có lẽ đó là lý do cho đến tận bân giờ người Mỹ vẫn biện hộ về cuộc chiến ở Việt Nam rằng “We don’t lose that war, we just abandon it” – Chúng tôi không thua, chúng tôi chỉ bỏ qua nó…

         Cuộc chiến ấy dần được tái hiện trên một bản đồ. Màu đỏ bắt đầu bao trùm, lấn át, siết chặt lấy những chấm đen. The North Vietnamese, Communist là những từ được cất lên qua giọng nói của các nhân vật với vẻ vừa khiếp sợ vừa khinh bỉ. Bạn sẽ không bao giờ hiểu được “cái vẻ” đó nếu bạn không phải là người trong cuộc, hay nếu bạn chưa trực tiếp gặp gỡ người trong cuộc. Tôi may mắn được cảm “cái vẻ” đó trong khá nhiều trải nghiệm của riêng mình. Có lẽ sẽ để dành kể chi tiết hơn vào một dịp khác. Bởi tôi, một người không màng đến bất cứ thứ chủ nghĩa, chính trị nào, cũng đã từng phải mất một thời gian dài để hiểu, để cảm, dù đã từng đi giữa khu trung tâm người Việt ở quận Cam (Orange County, Los Angeles), ghé thăm những toà soạn báo của người Việt, gặp gỡ những người Việt ở nhiều tiểu bang khác trên đất Mỹ, những con người ra đi trong và sau năm 1975, cùng với những người thân của họ. Chỉ khi chính tôi bị sỉ nhục, bị ngơ ngác vì mình là người sinh ra ở đất Bắc, nói giọng Bắc, chỉ khi chính tôi mang câu chuyện của mình chia sẻ với họ, và thực sự cầu thị lắng nghe những thiên truyện của họ, tôi mới có thể hiểu được. Đó là lúc họ mở lòng ra, vắt tim ra nói về lòng căm thù, về nỗi đau nhen nhói khi nghe ai đó cất lên thứ tiếng mẹ đẻ, về những mất mát, những hy sinh, những máu và nước mắt… Sẽ không còn khoảng cách về thứ phân biệt vô nghĩa nhạt toẹt giữa Bắc kỳ – Nam kỳ, sẽ không còn hoài nghi ngờ vực vô căn cứ. Sẽ chỉ còn lại một dòng máu, một dân tộc đã chịu quá nhiều đau thương, chia cắt. Một dân tộc không biết đi về đâu…

        Trong khi đó, người Mỹ họ lên kế hoạch cho mọi thứ, kể cả cái chết!

        15 phút đầu bộ phim có thể khiến bạn chán nản, vì có vẻ như nó không giống những gì bạn mong đợi. Bản thân tôi đã nghĩ có lẽ nó chỉ đơn giản là một bộ phim tài liệu, chắp nối những tư liệu cũ, vài tiếng bom đạn, và thứ âm nhạc đều đều gây buồn ngủ. Nó quá mềm mượt so với một bộ phim tài liệu về chiến tranh. Đó là lúc tôi cảm giác có bàn tay của nữ giới ở đây. Search google, không ngạc nhiên khi đạo diễn là nữ, và cái họ Kennedy khiến tôi tò mò. Thực sự tôi có thể đã tắt tivi đi nếu không biết rằng nữ đạo diễn Rory Kennedy là cháu của cựu Tổng thống Mỹ John F.Kennedy. Cô được sinh ra 6 tháng sau khi bố của cô, tức em trai JFK bị ám sát. Nếu bạn là một đứa trẻ lớn lên và biết được rằng bác ruột cùng bố của bạn đều bị ám sát, và đều liên quan đến chiến tranh, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ trở thành kẻ tò mò nhất thế gian về chiến tranh! Và chính sự tò mò đó đã thôi thúc Rory làm bộ phim này! Chính xuất thân của cô đã khiến cô có được những thước phim tư liệu quý giá và những chia sẻ chân thật đắt giá của các nhân chứng lịch sử!

         Tôi đã đúng và đã sai! Đúng, phụ nữ không nên làm phim về chiến tranh! Sai, Rory không làm phim về chiến tranh! Cô làm phim về con người, về tính nhân văn!

         I’m dreaming of a white Christmas – Tôi đang mơ về một Giáng sinh tuyết trắng – đó là thứ âm nhạc cuối cùng mà đài Mỹ ở Sài Gòn phát đi…

        Bộ phim bắt đầu chuyển sang cao trào khi được hơn một nửa. Những gấp gáp vội vã chuẩn bị cho kế hoạch sơ tán dồn dập qua nhiều khung hình. Nhưng có 1 người duy nhất không hề vội vàng, đó là Graham Martin – Đại sứ Mỹ cuối cùng tại miền Nam Việt Nam. Ông – người đã mất đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam, từ chối lên chiếc máy bay đầu tiên đến đón ông, bởi ông biết nếu ông lên đó, sẽ không người Việt nào còn được cứu. Người Mỹ đã phải dùng đến The Option 4 – cách cuối cùng để rời khỏi Sài gòn – dùng trực thăng của lính thuỷ đánh bộ Mỹ đưa người ra tàu biển. Hàng nghìn người đổ xuống đường, tìm mọi cách được vào trong sứ quán Mỹ để mong được sơ tán. Họ vượt rào, trèo tường, đút lót tiền cho lính Mỹ canh cửa, hoặc đơn giản là có mối quan hệ với người Mỹ trong Sứ quán. Họ mang theo cả hành lý, thậm chí người Mỹ còn nghĩ rằng cần mang theo cả thợ may Việt, đầu bếp Việt và cả người rửa bát nữa. Đó là lúc đạo diễn Rory Kennedy lấy được cả tiếng cười của khán giả khi làm phim tài liệu chiến tranh. Khuôn viên Sứ quán Mỹ trở nên nhốn nháo, lộn xộn hơn bao giờ hết. Tất cả đều nhìn lên bầu trời cầu mong những chiếc trực thăng, hay những điều kỳ diệu sẽ tới. Lẫn vào đó là cột khói nghi ngút mà người Mỹ đã phải mất tới 8 tiếng để đốt 1 triệu đô la trong một căn nhà ở góc Sứ quán. Số tiền dành cho việc chi trả cho người Việt làm việc cho chính phủ Mỹ.

        Ở đất liền là vậy, ngoài biển cũng không kém phần sôi sục. Những phi công người Việt trong Lực lượng Không quân miền Nam cố gắng hạ cánh lên Chiến hạm Mỹ ở biển Đông, sau khi đã đáp máy bay trước sân nhà để đón gia đình. Những chiếc trực thăng này không có bánh xe, và trên Chiến hạm chỉ đủ chỗ để đỗ 1 chiếc, bởi vậy việc họ làm là cứ mỗi trực thăng đỗ xuống, đón người xong, họ lại đẩy trực thăng xuống biển, để giành chỗ cho chiếc tiếp theo đỗ. Qua lời kể của một nhân chứng vào thời điểm đó chỉ mới 6 tuổi, bố anh đã dùng kỹ năng của một phi công Chinook máy bay loại to, để cứu thoát gia đình và những người Việt khác – những người không nằm trong kế hoạch sơ tán của Mỹ. Người Mỹ không thể tưởng tượng được sự liều lĩnh bản năng của người Việt ngay cả khi rời khỏi quê hương. Chinook còn không thể đỗ trên tàu, nên họ buộc nhảy xuống biển, rồi phi công tự thoát ra. Hình ảnh người mẹ buông đứa trẻ 6 tháng tuổi từ máy bay rớt xuống biển rồi cùng nhảy xuống theo, cho thấy họ không còn cách nào khác. Thà chết để sống, còn hơn ở lại sống để chết. Và lúc ấy, người ta không còn phân biệt được Việt hay Mỹ, chỉ có con người hãy cứu lấy con người…

        Mọi con số đều bị quá tải. 17 chiếc trực thăng đã chở được tới 157 người. Một chiếc tàu thông thường chỉ chở 200 người, mà giờ là 2000 người. 75 trực thăng được huy động tới sứ quán Mỹ. 1 phi công đã bay liên tục 18 tiếng đồng hồ, chuyến cuối cùng buộc phải đón Đại sứ. Một trong những người lính Mỹ phải trấn an khoảng 420 người Việt còn lại tại Sứ quán, rồi phải dùng câu nói dối hẳn bằng tiếng Việt – “mót đái quá” – để rời khỏi đó, lên một trong những chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam vào lúc gần 4h sáng ngày 30/4. Và 11 người Mỹ còn lại, 7h58 sáng ngày 30, là những lính Mỹ cuối cùng rời SG. Ngay cả người Mỹ cũng gọi quyết định rút lui của chính phủ Mỹ khi đó là một sự phản bội – “serious and deep betrayal”. Phản bội ai, phản bội cái gì, thì ngay cả những người đưa ra quyết định vào lúc đó cũng chẳng hiểu nổi. Trong khi ấy, có một Option khác mà người Mỹ không nghĩ tới, một luồng di cư khác cũng đang ồ ạt, đó là những thuyền nhân lên tàu thương mại ngoài cảng Sài Gòn. Thế nhưng, bao trùm lên tất cả vẫn là sự bất lực. Từ sự bất lực của một chiếc xe máy treo lơ lửng trên mạn tàu, hay ngay cả đến sự bất lực của Đại sứ Martin khi vừa cắn miếng táo vừa trả lời phỏng vấn. Và thế là hết! Người lính Thuỷ quân hát quốc ca Việt Nam Cộng Hoà trên biển, thấm thía là mình đã mất hết. Khi lá cờ vàng 3 sọc VNCH hạ xuống, cờ Mỹ treo lên, khi chiếc tàu tiến vào vùng biển của Philippines, vì nước này đã công nhận chính phủ mới ở Việt Nam. Còn trên đường phố Sài Gòn lúc ấy, người lính VNCH giải giáp, chỉ còn mặc quần lót hoặc nhanh chóng khoác lên mình thường phục. Họ cho đến giờ có người còn sống sót, đã già, và vẫn còn băn khoăn tự hỏi rằng “Đây là những gì chúng tôi chiến đấu vì sao? Đây là những gì người Mỹ đến ư?”…

         Có 3 nhân chứng người Việt xuyên suốt câu chuyện. Một người lính VNCH – Phạm Đàm , Thuỷ quân VNCH – Đỗ Kiêm, cậu học sinh Phó Bình bị bắt đi trại cải tạo sau đó 1 năm trốn sang Mỹ. Những lời kể vẫn còn run rẩy, xúc động. Họ là 3 trong số 130.000 người VN đã trốn thoát, trong đó có 77.000 người được mô tả trong phim. Có điều mà tôi chắc chắn là họ và chính bản thân tôi cũng cảm thấy day dứt khi phải dùng đến từ “trốn thoát”, “chạy trốn”, “rời đi”, “escape”, “run away”, “leave” khỏi chính quê hương đất mẹ. Không ai ý thức được điều gì khi ấy ngoài khao khát được sống, như chính những đứa trẻ trong Chiến dịch Babylift – Chiến dịch Không vận trẻ em Việt Nam 1975.

        “Những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 đã tóm tắt lại cả cuộc chiến ở Việt Nam. Những lời hứa được tạo ra để rồi bị phá vỡ. Mọi người đau đớn vì chúng tôi không thể làm tốt. Nhưng mặt khác, đôi lúc có những khoảnh khắc mà người tốt phải vượt qua hoàn cảnh để làm những việc cần làm. Và ở Sài Gòn không thiếu những người như vậy…” – Đại tá Stuart Herrington, một trong những người như vậy, đã chia sẻ trong những thước phim cuối cùng. Những người Mỹ ở Việt Nam đã cố gắng cứu người Việt khi mà chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi họ. Những người Việt của chế độ Sài Gòn cũng đã quyết định tự cứu lấy mình chứ không để đoàn quân Việt Nam cứu họ. Tất cả đều là quyết định của mỗi một con người, đi hay ở, sống hay chết. Chính phủ, quân đội xét cho cùng chỉ là những thể chế, công cụ mà thôi.

       Bộ phim khép lại với một khoảng lặng dành cho người xem. Chẳng ai có quyền phán xét, lịch sử cũng không. Với tôi, cái thứ đọng lại sau cùng, sau tất cả những cảm xúc, những day dứt, những giải toả, lại gói gọn trong từ Freedom – Tự do. “Not American soil but American freedom” – đó là thứ mà những người ra đi, họ thực sự chạm tới!

       Còn những người ở lại, hay những người sinh ra và sống trong thời bình, cho đến bây giờ hơn 40 năm kể từ sau cuộc chiến hoà bình độc lập, bỏ qua những băn khoăn của lịch sử, họ đang sống cho hiện tại với một tương lai chưa biết trước, và họ đang phải vật lộn với một cuộc chiến khác. Một cuộc chiến không tiếng súng, không bom đạn, nhưng những cái lò vô hình vẫn đang được chất củi để đốt và chờ đốt. Không có lửa làm sao có khói. Và bầu trời Hà Nội vẫn được bao bọc bởi thứ không khí đặc quánh, quẩn quanh, khó thở. Đất, nước, và số phận con người ở Việt Nam bây giờ… à mà thôi, chẳng nói, chẳng viết nữa, sợ lạc trôi vào đề tài khác! Tóm lại các bạn hãy xem phim đi nhé!

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s