Sợ…

Và thế là đàn ve sầu lại râm ran khúc tráng ca bất tận của mùa hè…

Có ai như mình… Sợ ve sầu, sợ mùa hè…

Ngày xưa tuổi trẻ cứ tưởng mình bất tử, chả sợ cái gì! Giờ thì chứng kiến nhiều việc quá, thấy cái gì cũng đáng sợ… Ừ cũng phải, sợ gì mà không sợ! Như người ta hay trêu đùa nhại giọng Huế “chị một chiệc lạ rơi cụng làm em hoạng sợ”… Mong manh là thế! Nhạy cảm là thế! 

Sợ cả những cuộc vui, những ly rượu, những đàn hát… Vẫn thế và mãi thế… Con người ta gặp nhau, cố sẻ mình ra một chút để hoà với không khí chung. Cười nói, nói cười… Nhưng thật giả lẫn lộn. Chưa chắc họ đang là chính mình. Ngồi quan sát một lát, nhấp một ngụm, hỏi vài câu, có khi chỉ vậy thôi cũng đủ hiểu con người ta thế nào. Và thế là lại ngồi một lát, chẳng buồn nói câu gì… Người ta bảo kệ, thấy vui là được! Nhưng chưa chắc vui! Cái vui cũng thật giả lẫn lộn! Sợ… 

Thông thường cả ngày người ta ném mình ra xã hội rộng lớn ngoài kia, tối về lại muốn chui vào một góc nào đó của quán rượu hay đơn giản là về nhà, tự thưởng cho mình một ly. Có thể những lúc ấy người ta mới tìm lại chính mình. Nhưng có bao giờ con người ta suy nghĩ và làm ngược lại cái sự thông thường đó? Rằng nếu cả ngày họ sống là chính mình, thì đêm về, họ không cần phải tìm lại chính mình nữa. Rằng sau một ngày, họ sẽ muốn leo lên thật cao, phóng tầm mắt đi thật xa, thâu tóm những luồng không khí dễ thở nhất, trong lành nhất. Tạm quên đi những con người đã gặp, những câu chuyện đã nghe, những điều đã chứng kiến. Uống một chút, cười một cái, rồi về ngủ thật ngon! 

Họp hành, quyết sách, dự án, hợp đồng, đàm phán, thảo luận… chung quy cũng chỉ xoanh quanh quyền và tiền. Những thứ hữu hạn nhưng con người lại tưởng là vô hạn! Tham sân si cũng chẳng vượt quá được lòng bàn tay! Biết buông bỏ là biết tự giải phóng mình…

Đời đến lạ! Nhìn nhiều, nghe nhiều, thì miệng lại bớt nói. Dần dà biết điều gì nên nói, nên thôi! Nói có nghĩa, có ích thì nói, không nói không ai bảo mình câm. Mà giả người ta có bảo mình câm thì cũng chỉ cần quay lại nhẹ nhàng “Ừ” một tiếng! Mèo có gào lên một tiếng cũng không thành hổ được. Hổ dù không leo nổi cây thì vẫn là hổ. Khí chất con người không phải ở dăm ba câu nói suông… 

Hà Nội vẫn vậy. Nhờn nhợt, đặc quánh, ngột ngạt… Vẫn cái cảm giác thiếu không khí, khó thở ấy! Bỗng nhớ lại một câu nói xưa, cứ tưởng chôn chặt lắm ở đâu đó trong trí óc. Tình yêu đầu vụng dại thơ ngây nhưng chân thật nhất… “Mình yêu nhau nhiều như không khí”… Không có tình yêu, không có không khí, không thở nổi…  

Nhiều lúc thấy mình không viết nổi nữa… Không viết nổi những trái ngang. Không căn đủ những hàng dọc. Không đặt nổi dấu chấm, cũng chẳng thể xuống dòng. Bởi sợ mình thật lòng quá, không giấu nổi mình. Nhưng kệ, cứ viết! Hàng ngày mở mắt, hàng đêm nhắm mắt, vẫn ở trên cao nhìn xuống khung cảnh quen thuộc, vẫn vút tầm mắt về nơi xa lắm. Mà sợ không gieo nổi mình vào dòng đời vội vã ngoài kia… 

Giờ lại thích luyện chữ tượng hình Hán Nôm. Ê a ngồi vẽ những nét sổ, ngang, chấm, mác… Học chữ Nhân… Học chữ Tâm… Học chữ Ái… Học chữ An… Viết một hồi, tay cũng run… 

Đôi khi để quên đi nỗi sợ, người ta chỉ cần một cái nắm tay…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon! 

Ngẫm

Trầm ngư lạc nhạn nhân vô định

Bế nguyệt tu hoa tự hư danh

Thế sự cổ kim vô nhi nữ

Căn nguyên luận nghịch hoàn nữ nhi

**********
<tạm dịch>
Chim sa cá lặn chỉ là kẻ lạc lối
Trăng náu hoa nhường cũng là phường hư danh
Thế sự xưa nay vốn ko phải là chuyện của đàn bà
Nhưng có thể vì đàn bà mà thành thế sự
**********
Lâu rồi ko thẩn thơ… Cũng vì bấy lâu nay tâm hồn cạn kiệt, chẳng có đầu óc đâu mà biên thơ… Tự dưng nhân Nguyên tiêu nổi hứng làm bừa mấy câu cổ phong…

Ngẫm thế sự muôn đời thiên biến vạn hoá, vốn không phải nằm trong bàn tay của con người, lại càng không nằm trong những ngón thon dài của nhi nữ! Những ngón ấy chỉ để đàn hát, để vuốt ve, để đẹp đẽ mà thôi! Tự cổ chí kim, từ Tứ đại mỹ nhân nổi danh Tây Thi (Trầm ngư) – Vương Chiêu Quân (Lạc nhạn) – Điêu Thuyền (Bế nguyệt) – Dương Quý Phi (Tu hoa) vẻ đẹp khiến chim sa cá lặn, khiến trăng phải náu hoa phải nhường, không quân tử nào qua được ải mỹ nhân. Bởi vậy Mỹ nhân kế bao đời nay vẫn luôn là tuyệt kế! Cũng bởi vậy mà cao nhân cứ thấy mỹ nhân là lại đề phòng kế sách! Kỳ lạ thay, đã là cao nhân lại không hiểu chỉ có Vô chiêu mới đấu được với Bách chiêu! Chỉ những điều chân thật nhất, giản dị nhất mới có thể nhẹ nhàng đi qua những sỏi đá, những chông gai để đến được với khối óc và trái tim! Chỉ một chút mảy may tư lợi là đã có thể làm mất niềm tin phải khó khăn lắm mới gây dựng nên! Dù nữ nhân có ngốc nghếch hay gian xảo đến mấy cũng đều chỉ là cơi đựng trầu, sánh sao được với giếng khơi tự bản thân đã sâu hun hút! Mưa là nước giếng lên, nhưng không bao giờ đầy được! Giếng mà đầy đã không phải là giếng! Bởi giếng luôn có chỗ để thẩm thấu vào những mạch nước ngầm đổ ra sông ra bể! Nam nhân là vậy, là sông, là bể, là cánh chim trời, bao la, bát ngát! Ấy vậy mà nữ nhân lại muốn được như nam nhân, e rằng khó quá! 

Cuộc đời bể dâu, thân gái dặm trường, chỉ như bông hoa lao đao trước gió! Cánh nở rồi cánh cũng phải tàn! Nam nhân dù có si tình đến mấy cũng sớm muộn quay trở về với thực tại! Còn nữ nhân có làm nên thế sự thì rồi cũng đến lúc chỉ quẩn quanh lầu son gác tía, vượng phu ích tử!

Kết cục của nữ nhân bao đời nay luôn là vậy, luôn giống nhau! 

Không khác được, muốn khác cũng không được… 

_Tết Nguyên Tiêu, Kỷ Hợi 2019_ 

Rằm Tháng Giêng trăng khuyết… 

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon! 

Chim lồng cá sông

IMG_0006

Cuối cùng thì trời cũng mưa. Sau một tuần nắng nóng nhớp nhúa. Bức bối. Khó chịu. Cơn mưa mùa hạ ào xuống cuốn trôi tất thảy bụi bặm, muộn phiền. Nhìn từ trên cao, những hạt mưa chẳng khác gì những bông tuyết rơi. Mọi âm thanh trở nên ồn ào hơn, hỗn loạn hơn. Tiếng còi xe giục giã hơn để người ta nhanh chóng trở về nhà, hay chỉ là nhanh chóng trú mưa. Những giọt nước đuổi nhau trên khung cửa kính. Chúng tự vẽ bản đồ của riêng mình…

Phía trên cao thành phố có một cái chuồng chim. Lẽ thường, hoạ mi mái xuỳ chỉ để kích trống hót căng hơn, hay hơn. Mi mái không biết hót! Mi mái chỉ được cái mau mồm mau miệng. Mi mái khôn ngoan được giữ lại trong chuồng. Mi mái bất tài thường thả về rừng sinh sôi nảy nở. Nhưng đã phàm là giống chim, phải biết bay, phải thích bay. Chẳng có con nào ưa loanh quanh nhảy cà tưng trong lồng, cho dù cái lồng ấy có đẹp đẽ cỡ nào. Ấy thế mà cái sự lạ của  bất kì loài nào bị giam nhốt, lâu dần rồi cũng sẽ trở thành thói quen. Có thả cho đi rồi cũng sẽ trở về. Nó thích thú được giam nhốt, được ở yên trong lồng nhìn ngắm mọi vật xung quanh. Mưa đến, những con chim tự do sẽ lo lắng tìm nơi trú ngụ, còn chim trong lồng tự dưng lại vui vẻ reo vang. Chẳng hề sợ sấm rền chớp loá, cũng chẳng hề đắn đo những rào rạt bên ngoài. Kiếp chim lồng cá chậu những tưởng một ngày bằng cả năm gông ngồi tù, ấy vậy mà ở khía cạnh nào đó có khi lại nhiều phần hơn. Nó thích cuộn mình rỉa lông rỉa cánh, thích quan sát các vật thể phía dưới, rồi có lúc lại bơ đi, chẳng thèm quan tâm tới thế giới bên ngoài, bỏ quên tháng ngày đằng đẵng trôi. Mưa, nắng, gió, bão không chạm được tới nó. Ngay cả khi chiếc lồng rung rinh, hay chính nó rung rinh, nó vẫn luôn nhanh chóng lấy lại được thế cân bằng. Bởi vậy, nó thích mưa! Nó thích ung dung tự tại khi ngoài kia biết bao nhiêu vội vã…

Trái ngược với những rộn rã trên bờ, ở phía đó, dòng sông bến nước con thuyền vẫn lững lờ trôi. Chẳng vội được, chẳng trốn mưa được. Chỉ có những con cá sông bơi lội dưới làn nước kia mới trốn được mưa. Nhưng đó thường là thời điểm cuối cùng của cá sông. Trốn mưa nốt đi, tung tăng nốt đi, quẫy đạp nốt đi, ngụp lặn cho thật sâu vào. Để rồi sau cơn mưa, cá ngoi lên mặt nước hô hấp, và thường bị bắt nhiều hơn. Người đi câu sành sỏi là người bắt cá sau cơn mưa. Bởi vậy, cá sông và chim lồng, chưa biết con nào thoải mái sống trọn kiếp hơn con nào! Có điều, cả 2 đều khoác lên mình tấn bi kịch. Bi kịch của kẻ thất bại!

Cũng đúng thời điểm này, 2 năm trước, có đoạn viết “một con cá như mình thà vùng vẫy, giành giật sự sống và cuối cùng chết queo ở sông kia, chứ không thể lượn lờ trong cái bình thuỷ tinh”. Hoá ra con cá trong bình thuỷ tinh đã trốn được ra sông, đã vùng vẫy chết queo, đã hoá kiếp thành con chim tự do rồi tự chui vào lồng lúc nào chẳng biết…

Mưa vẫn nằng nặng, gió vẫn rin rít… Ly rượu trên tay vẫn còn phân nửa… Có kẻ ngù ngờ chợt nhận ra mình chính là con chim trong lồng, tự giam nhốt chính mình…

…Xuỳ Xuỳ…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Đời và Em

ao_dai

Đời tung gió cuốn miệng cười
Em tung áo thả hồn người bay đi
Lỡ vương trên một hàng mi
Bao nhiêu chớp mắt đợi chi tháng ngày

Đời rồi cũng sẽ đổi thay
Em đây vẫn chẳng lung lay ân tình
Lẩn quanh chỉ một bóng hình
Mơ mơ tỉnh tỉnh hỏi mình nhớ chăng

Đời này lúc giáng lúc thăng
Em xin nguyện mãi cung trăng bến chờ…
_NMBT và Hà Nội một ngày dở hơi_
P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Last Days in Vietnam

last_days_in_vietnam

        Khung cảnh tháng 4/1975 ở Sài Gòn. Những con phố vẫn nhộn nhịp, những con người đang phân vân lo lắng. Và lời kể của một nhân chứng cất lên “…The burning question is who goes, and who gets left behind?”… Ai đi và ai bị bỏ lại?…

        Đó là những hình ảnh đầu tiên cực kì ấn tượng của bộ phim “Last Days in Vietnam” được đề cử giải Oscar năm 2015 dành cho hạng mục Phim tài liệu hay nhất. Một bộ phim hiếm hoi của Mỹ về đề tài chiến tranh Việt Nam lột tả một cách chân thực, xác đáng và công bằng cho tất cả các bên. Một bộ phim PHẢI XEM nếu muốn hiểu hơn về “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” – những ngày mà cho đến tận bây giờ cả người Mỹ và người Việt vẫn còn đặt ra quá nhiều câu hỏi, trong đó có tôi. Nếu tôi là giáo viên dạy sử, thay vì những dòng chữ trong hàng trăm trang sách, tôi sẽ để học sinh xem bộ phim này trên Netflix. Không phải để trả lời những câu hỏi, mà để thấy được điều lớn lao, ý nghĩa hơn tất thảy về CON NGƯỜI, về khao khát được sống mãnh liệt của con người…

Sau khi “the burning question” được đặt ra, bộ phim lại quay trở về mốc 1973 Hiệp định Paris được ký kết. Những nhân chứng lịch sử lần lượt lên tiếng. Cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, đại diện CIA Frank Snepp, Đại tá Stuart Herrington đã bày tỏ quan điểm của mình một cách tự nhiên nhất, chân thật nhất trong suốt bộ phim có độ dài 98 phút. Thậm chí về cả việc Quốc hội Mỹ không thông qua gói cứu trợ trị giá 722 triệu đô, một dấu chấm hết cho chế độ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam. Và đó cũng là khi lần đầu tiên người ta thấy Tổng thống Gerald Ford chửi thề “Those sons of bitches!” Mâu thuẫn giữa Tổng thống và Quốc Hội chẳng bao giờ là mới trong chính trường Mỹ. Cũng là điều dễ hiểu! Một nước Mỹ vừa trải qua cú sốc Watergate với đầy hoài nghi, niềm tin bị tổn thương trầm trọng, không thể đồng thuận cho bất kì một quyết định lớn nào của giới chính trị. Không thể thêm tiền, không thể thêm quân! Hãy trả những người con của Mỹ về với đất mẹ! Có lẽ đó là lý do cho đến tận bân giờ người Mỹ vẫn biện hộ về cuộc chiến ở Việt Nam rằng “We don’t lose that war, we just abandon it” – Chúng tôi không thua, chúng tôi chỉ bỏ qua nó…

         Cuộc chiến ấy dần được tái hiện trên một bản đồ. Màu đỏ bắt đầu bao trùm, lấn át, siết chặt lấy những chấm đen. The North Vietnamese, Communist là những từ được cất lên qua giọng nói của các nhân vật với vẻ vừa khiếp sợ vừa khinh bỉ. Bạn sẽ không bao giờ hiểu được “cái vẻ” đó nếu bạn không phải là người trong cuộc, hay nếu bạn chưa trực tiếp gặp gỡ người trong cuộc. Tôi may mắn được cảm “cái vẻ” đó trong khá nhiều trải nghiệm của riêng mình. Có lẽ sẽ để dành kể chi tiết hơn vào một dịp khác. Bởi tôi, một người không màng đến bất cứ thứ chủ nghĩa, chính trị nào, cũng đã từng phải mất một thời gian dài để hiểu, để cảm, dù đã từng đi giữa khu trung tâm người Việt ở quận Cam (Orange County, Los Angeles), ghé thăm những toà soạn báo của người Việt, gặp gỡ những người Việt ở nhiều tiểu bang khác trên đất Mỹ, những con người ra đi trong và sau năm 1975, cùng với những người thân của họ. Chỉ khi chính tôi bị sỉ nhục, bị ngơ ngác vì mình là người sinh ra ở đất Bắc, nói giọng Bắc, chỉ khi chính tôi mang câu chuyện của mình chia sẻ với họ, và thực sự cầu thị lắng nghe những thiên truyện của họ, tôi mới có thể hiểu được. Đó là lúc họ mở lòng ra, vắt tim ra nói về lòng căm thù, về nỗi đau nhen nhói khi nghe ai đó cất lên thứ tiếng mẹ đẻ, về những mất mát, những hy sinh, những máu và nước mắt… Sẽ không còn khoảng cách về thứ phân biệt vô nghĩa nhạt toẹt giữa Bắc kỳ – Nam kỳ, sẽ không còn hoài nghi ngờ vực vô căn cứ. Sẽ chỉ còn lại một dòng máu, một dân tộc đã chịu quá nhiều đau thương, chia cắt. Một dân tộc không biết đi về đâu…

        Trong khi đó, người Mỹ họ lên kế hoạch cho mọi thứ, kể cả cái chết!

        15 phút đầu bộ phim có thể khiến bạn chán nản, vì có vẻ như nó không giống những gì bạn mong đợi. Bản thân tôi đã nghĩ có lẽ nó chỉ đơn giản là một bộ phim tài liệu, chắp nối những tư liệu cũ, vài tiếng bom đạn, và thứ âm nhạc đều đều gây buồn ngủ. Nó quá mềm mượt so với một bộ phim tài liệu về chiến tranh. Đó là lúc tôi cảm giác có bàn tay của nữ giới ở đây. Search google, không ngạc nhiên khi đạo diễn là nữ, và cái họ Kennedy khiến tôi tò mò. Thực sự tôi có thể đã tắt tivi đi nếu không biết rằng nữ đạo diễn Rory Kennedy là cháu của cựu Tổng thống Mỹ John F.Kennedy. Cô được sinh ra 6 tháng sau khi bố của cô, tức em trai JFK bị ám sát. Nếu bạn là một đứa trẻ lớn lên và biết được rằng bác ruột cùng bố của bạn đều bị ám sát, và đều liên quan đến chiến tranh, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ trở thành kẻ tò mò nhất thế gian về chiến tranh! Và chính sự tò mò đó đã thôi thúc Rory làm bộ phim này! Chính xuất thân của cô đã khiến cô có được những thước phim tư liệu quý giá và những chia sẻ chân thật đắt giá của các nhân chứng lịch sử!

         Tôi đã đúng và đã sai! Đúng, phụ nữ không nên làm phim về chiến tranh! Sai, Rory không làm phim về chiến tranh! Cô làm phim về con người, về tính nhân văn!

         I’m dreaming of a white Christmas – Tôi đang mơ về một Giáng sinh tuyết trắng – đó là thứ âm nhạc cuối cùng mà đài Mỹ ở Sài Gòn phát đi…

        Bộ phim bắt đầu chuyển sang cao trào khi được hơn một nửa. Những gấp gáp vội vã chuẩn bị cho kế hoạch sơ tán dồn dập qua nhiều khung hình. Nhưng có 1 người duy nhất không hề vội vàng, đó là Graham Martin – Đại sứ Mỹ cuối cùng tại miền Nam Việt Nam. Ông – người đã mất đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam, từ chối lên chiếc máy bay đầu tiên đến đón ông, bởi ông biết nếu ông lên đó, sẽ không người Việt nào còn được cứu. Người Mỹ đã phải dùng đến The Option 4 – cách cuối cùng để rời khỏi Sài gòn – dùng trực thăng của lính thuỷ đánh bộ Mỹ đưa người ra tàu biển. Hàng nghìn người đổ xuống đường, tìm mọi cách được vào trong sứ quán Mỹ để mong được sơ tán. Họ vượt rào, trèo tường, đút lót tiền cho lính Mỹ canh cửa, hoặc đơn giản là có mối quan hệ với người Mỹ trong Sứ quán. Họ mang theo cả hành lý, thậm chí người Mỹ còn nghĩ rằng cần mang theo cả thợ may Việt, đầu bếp Việt và cả người rửa bát nữa. Đó là lúc đạo diễn Rory Kennedy lấy được cả tiếng cười của khán giả khi làm phim tài liệu chiến tranh. Khuôn viên Sứ quán Mỹ trở nên nhốn nháo, lộn xộn hơn bao giờ hết. Tất cả đều nhìn lên bầu trời cầu mong những chiếc trực thăng, hay những điều kỳ diệu sẽ tới. Lẫn vào đó là cột khói nghi ngút mà người Mỹ đã phải mất tới 8 tiếng để đốt 1 triệu đô la trong một căn nhà ở góc Sứ quán. Số tiền dành cho việc chi trả cho người Việt làm việc cho chính phủ Mỹ.

        Ở đất liền là vậy, ngoài biển cũng không kém phần sôi sục. Những phi công người Việt trong Lực lượng Không quân miền Nam cố gắng hạ cánh lên Chiến hạm Mỹ ở biển Đông, sau khi đã đáp máy bay trước sân nhà để đón gia đình. Những chiếc trực thăng này không có bánh xe, và trên Chiến hạm chỉ đủ chỗ để đỗ 1 chiếc, bởi vậy việc họ làm là cứ mỗi trực thăng đỗ xuống, đón người xong, họ lại đẩy trực thăng xuống biển, để giành chỗ cho chiếc tiếp theo đỗ. Qua lời kể của một nhân chứng vào thời điểm đó chỉ mới 6 tuổi, bố anh đã dùng kỹ năng của một phi công Chinook máy bay loại to, để cứu thoát gia đình và những người Việt khác – những người không nằm trong kế hoạch sơ tán của Mỹ. Người Mỹ không thể tưởng tượng được sự liều lĩnh bản năng của người Việt ngay cả khi rời khỏi quê hương. Chinook còn không thể đỗ trên tàu, nên họ buộc nhảy xuống biển, rồi phi công tự thoát ra. Hình ảnh người mẹ buông đứa trẻ 6 tháng tuổi từ máy bay rớt xuống biển rồi cùng nhảy xuống theo, cho thấy họ không còn cách nào khác. Thà chết để sống, còn hơn ở lại sống để chết. Và lúc ấy, người ta không còn phân biệt được Việt hay Mỹ, chỉ có con người hãy cứu lấy con người…

        Mọi con số đều bị quá tải. 17 chiếc trực thăng đã chở được tới 157 người. Một chiếc tàu thông thường chỉ chở 200 người, mà giờ là 2000 người. 75 trực thăng được huy động tới sứ quán Mỹ. 1 phi công đã bay liên tục 18 tiếng đồng hồ, chuyến cuối cùng buộc phải đón Đại sứ. Một trong những người lính Mỹ phải trấn an khoảng 420 người Việt còn lại tại Sứ quán, rồi phải dùng câu nói dối hẳn bằng tiếng Việt – “mót đái quá” – để rời khỏi đó, lên một trong những chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam vào lúc gần 4h sáng ngày 30/4. Và 11 người Mỹ còn lại, 7h58 sáng ngày 30, là những lính Mỹ cuối cùng rời SG. Ngay cả người Mỹ cũng gọi quyết định rút lui của chính phủ Mỹ khi đó là một sự phản bội – “serious and deep betrayal”. Phản bội ai, phản bội cái gì, thì ngay cả những người đưa ra quyết định vào lúc đó cũng chẳng hiểu nổi. Trong khi ấy, có một Option khác mà người Mỹ không nghĩ tới, một luồng di cư khác cũng đang ồ ạt, đó là những thuyền nhân lên tàu thương mại ngoài cảng Sài Gòn. Thế nhưng, bao trùm lên tất cả vẫn là sự bất lực. Từ sự bất lực của một chiếc xe máy treo lơ lửng trên mạn tàu, hay ngay cả đến sự bất lực của Đại sứ Martin khi vừa cắn miếng táo vừa trả lời phỏng vấn. Và thế là hết! Người lính Thuỷ quân hát quốc ca Việt Nam Cộng Hoà trên biển, thấm thía là mình đã mất hết. Khi lá cờ vàng 3 sọc VNCH hạ xuống, cờ Mỹ treo lên, khi chiếc tàu tiến vào vùng biển của Philippines, vì nước này đã công nhận chính phủ mới ở Việt Nam. Còn trên đường phố Sài Gòn lúc ấy, người lính VNCH giải giáp, chỉ còn mặc quần lót hoặc nhanh chóng khoác lên mình thường phục. Họ cho đến giờ có người còn sống sót, đã già, và vẫn còn băn khoăn tự hỏi rằng “Đây là những gì chúng tôi chiến đấu vì sao? Đây là những gì người Mỹ đến ư?”…

         Có 3 nhân chứng người Việt xuyên suốt câu chuyện. Một người lính VNCH – Phạm Đàm , Thuỷ quân VNCH – Đỗ Kiêm, cậu học sinh Phó Bình bị bắt đi trại cải tạo sau đó 1 năm trốn sang Mỹ. Những lời kể vẫn còn run rẩy, xúc động. Họ là 3 trong số 130.000 người VN đã trốn thoát, trong đó có 77.000 người được mô tả trong phim. Có điều mà tôi chắc chắn là họ và chính bản thân tôi cũng cảm thấy day dứt khi phải dùng đến từ “trốn thoát”, “chạy trốn”, “rời đi”, “escape”, “run away”, “leave” khỏi chính quê hương đất mẹ. Không ai ý thức được điều gì khi ấy ngoài khao khát được sống, như chính những đứa trẻ trong Chiến dịch Babylift – Chiến dịch Không vận trẻ em Việt Nam 1975.

        “Những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 đã tóm tắt lại cả cuộc chiến ở Việt Nam. Những lời hứa được tạo ra để rồi bị phá vỡ. Mọi người đau đớn vì chúng tôi không thể làm tốt. Nhưng mặt khác, đôi lúc có những khoảnh khắc mà người tốt phải vượt qua hoàn cảnh để làm những việc cần làm. Và ở Sài Gòn không thiếu những người như vậy…” – Đại tá Stuart Herrington, một trong những người như vậy, đã chia sẻ trong những thước phim cuối cùng. Những người Mỹ ở Việt Nam đã cố gắng cứu người Việt khi mà chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi họ. Những người Việt của chế độ Sài Gòn cũng đã quyết định tự cứu lấy mình chứ không để đoàn quân Việt Nam cứu họ. Tất cả đều là quyết định của mỗi một con người, đi hay ở, sống hay chết. Chính phủ, quân đội xét cho cùng chỉ là những thể chế, công cụ mà thôi.

       Bộ phim khép lại với một khoảng lặng dành cho người xem. Chẳng ai có quyền phán xét, lịch sử cũng không. Với tôi, cái thứ đọng lại sau cùng, sau tất cả những cảm xúc, những day dứt, những giải toả, lại gói gọn trong từ Freedom – Tự do. “Not American soil but American freedom” – đó là thứ mà những người ra đi, họ thực sự chạm tới!

       Còn những người ở lại, hay những người sinh ra và sống trong thời bình, cho đến bây giờ hơn 40 năm kể từ sau cuộc chiến hoà bình độc lập, bỏ qua những băn khoăn của lịch sử, họ đang sống cho hiện tại với một tương lai chưa biết trước, và họ đang phải vật lộn với một cuộc chiến khác. Một cuộc chiến không tiếng súng, không bom đạn, nhưng những cái lò vô hình vẫn đang được chất củi để đốt và chờ đốt. Không có lửa làm sao có khói. Và bầu trời Hà Nội vẫn được bao bọc bởi thứ không khí đặc quánh, quẩn quanh, khó thở. Đất, nước, và số phận con người ở Việt Nam bây giờ… à mà thôi, chẳng nói, chẳng viết nữa, sợ lạc trôi vào đề tài khác! Tóm lại các bạn hãy xem phim đi nhé!

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!

Câm

pix
_Mute Muse_

Đôi khi em ước mình câm
Để không phải nói những câu vô nghĩa
Không phải hỏi những điều em thừa biết
Không phải hét lên những lúc giận hờn

Đôi khi em ước mình câm
Chẳng cần trả lời còn yêu anh không đấy
Một cái gật đầu không nguôi cơn rạn vỡ
Bát nước đổ đi rồi ai uống cạn tình ai

Đôi khi em ước mình câm
Bởi người câm thì thường hay điếc
Không nghe thấy những dối gian trần thế
Ngẩng mặt lên trời nghe tiếng gió lao xao

Và đôi khi em ước mình câm
Chỉ để im lặng trong thế giới của riêng mình
Những bản tình ca khép vào từng nốt nhạc
Giả bộ mỉm cười buông một nét dửng dưng

Nhưng anh à… người câm cũng biết khóc
Cũng biết buồn biết đau đớn trong tim
Cũng biết nhớ thương giận hờn vu vơ đó
Không nói ra không có nghĩa lạnh lùng

Nên anh à… hãy nghe khi em còn muốn nói
Để những lặng thinh hoá thành thổn thức
Để những môi hôn khoá tiếng thở dài
Để những niềm yêu được đập mãi trong nhau…

_NMBT và Hà Nội một ngày câm_
P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon! 

Thường

_The Mute_

Chuyện chép trên núi…

Mây tảng lờ những tầm phào dưới mặt đất, bềnh bồng nhẹ lướt, tu lượn trên đỉnh núi. Tiết trời se sẽ thứ lạnh ngòn ngọt đầu đông. Ông vuốt mái tóc pha sương, ngồi thư thái bên chiếc bàn gù hương, thoảng mùi thơm nồng nồng, ngai ngái. Nhấp một ngụm trà sen từ chiếc ấm tử sa quần ẩm văn đán hoạ một bông mẫu đơn, ông cất tiếng :

– Tôi trông cô quen quen! Tôi đã gặp cô chưa nhỉ?

– Dạ thưa, chắc chưa, mà cũng chưa chắc!

– Ừ, cũng có thể gặp đâu đó rồi mà trí nhớ tôi kém! Thôi thì cũng phải có duyên lắm ta mới ngồi đây đối ẩm.

– Dạ vâng, Hà Nội vốn nhỏ, người hay ho lại không nhiều, cũng chả trách ta gặp nhau.

– Tôi già rồi nên chắc cũng hay bị ho hơn lớp trẻ như cô, chứ cô hay ho hay không tôi chưa chắc.

– Dạ thưa, bác lạ gì thời tiết đổi thay thất thường, có hay ho sớm hay muộn cũng đâu lạ.

– Khà khà, khá khen cho màn đối đáp làm quen. Người hay ho chắc cũng còn nhiều, chứ hảo hán anh hùng thời nay hiếm.

– Dạ thưa, anh hùng thời nào cũng hiếm cả. Thời nay lại càng hiếm hơn vì chẳng ai muốn làm anh hùng!

– Tôi hỏi khí không phải, cô năm nay bao tuổi mà nết nói năng lại hao hao nét xưa.

– Dạ thưa, các bác vẫn hay bảo tuổi tác không quan trọng, quan trọng ở cái tinh thần. Mà đáng lẽ tính ra vậy thì bác chỉ hơn em đôi ba tuổi.

– Ô hay, đôi ba tuổi là thế nào, cả đôi ba chục ấy chứ!

– Dạ thì đôi ba là hai ba 23 mà bác.

– Cái cô này đáo để ra phết! Cô nom vậy mà có khí phách của bậc hảo hán quân tử.

– Ấy chết, bác nói vậy thành ra phí hoài cái danh phận nữ nhi trời ban cho em.

– Cô đừng nhầm! Nam nữ không phải cái lý, chỉ là cái tình! Trăm lẻ tám vị hảo hán Lương Sơn cũng có người nữ. Bà Trưng Bà Triệu cũng đâu phải nam nhi.

– Dạ cảm ơn bác quá khen. Em không phải, cũng đâu dám. Chỉ mong sống sao cho được chữ Thường.

– Sao lại chọn chữ Thường? Sao không phải chữ An hay Phúc?

– Dạ thưa, cả 2 chữ đó đều hay. Có An là có Phúc, có Phúc tự thành An. Nhưng để có được 2 chữ đó e không phải do mình. Thường là bình thường. Theo em, cứ sống bình thường, suy nghĩ giản đơn, tự khắc mọi thứ tốt sẽ đến. Hoặc chẳng may không tốt, cũng coi là Thường.

– Ừ hừm, thường phải từng trải mất mát đau thương mới thấu được cái cốt đó. Lẽ chăng cô đã?

– Dạ thưa không! Em là người may mắn, nào đã được nếm mùi đắng cay đủ đầy của trần thế.

– Cô nói cứ như cô là người trời! Ai rồi cũng phải nếm đủ vị đời!

– Ấy không dám, bác thậm xưng vậy phải tội em. Ý em là còn trẻ người non dạ!

– Ừ cũng phải, sắc mặt tướng tá cô cũng không phải người từng trải nguy nan gì. Còn trong lắm!

– Vâng dù trong dù đục cũng là do tắm ao nhà thôi bác ạ!

– Giọng cô cứ nửa thật nửa đùa cứ như trêu ngươi. Người không quen nghe khó lọt tai.

– Vậy theo bác, giọng em nên sửa ra sao cho dễ nghe?

– Tự nhiên nó thế, cũng không cần sửa! Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt! Ai hiểu được mình thì hiểu cũng không cần cố!

– Thưa vâng, em chắc cũng chưa phải cố cái gì bao giờ!

– Có nhiều thứ vẫn cần phải cố! Không cố e không lớn nổi thành người!

– Vậy may, em không muốn lớn!

– Tự thân khắc lớn! Phàm cái gì là tự nhiên không cưỡng lại được! Mà cái gì cũng phải có thời điểm. Vận khứ kim thành thiết, thời lai thiết tự kim.

– Bác dạy phải ạ! Liệu cũng có phải do thời vận mà bác ẩn quy nơi đây?

– Ai nói cô tôi ẩn quy! Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu khách tầm. Chỉ là cái khí ở đây nó tốt cho người già như tôi!

– Ước gì lớn lên em được như bác!

– Rồi sẽ lớn, rồi sẽ được! Cứ giữ chữ Thường như cô đã chọn đấy, tôi cũng muốn xem sau này cô ra sao. Thôi thì như cô đến đây cũng là khách, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Hay thi thoảng cô có lòng đến thăm tôi uống chén trà.

– Dạ thưa bác, em lúc nào cũng có lòng!

– Khà khà, có lòng là tốt! Nên nhớ, tướng do tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển…

Mây đã xuống núi, chiều tà, chén trà nguội dần nhưng câu chuyện vẫn chưa nhạt…
Cái thứ năng lượng tốt đẹp đầy cảm hứng mà con người có thể truyền cho nhau chỉ đơn giản qua những lời trò chuyện, nó bình thường nhưng trân quý đến kỳ lạ…

P.S. Chúc một nửa thế giới ngủ ngon!